Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013


UAV chiến đấu Nga xài động cơ ngoại

VietnamDefence - Máy bay không người lái (UAV) tiến công có trọng lượng đến 1 tấn của Nga do công ty Tranzas phát triển chắc chắn sẽ được trang bị động cơ nước ngoài, và có tải trọng hữu ích gần 250 kg, Chủ tịch Tranzas Nikolai Lebedev cho hay.
Một loại UAV mới đang được phát triển của Nga
“Các động cơ nước ngoài được thừa nhận nhiều hơn. Đối với loại nhiệm vụ nhất định, chúng tất nhiên sẽ được sử dụng”, ông Lebedev nói.

Khi nói về tải trọng hữu ích của UAV đang phát triển, Chủ tịch Tranzas nói rằng, “nếu như tính đến thùng nhiên liệu đầy với thời gian làm việc tối đa thì đó là 200-250 kg tải trọng hữu ích”.

Ngoài ra, ông Lebedev cũng cho biết, thời gian UAV thử nghiệm bay và bắt đầu dđưa ào sả xuất loạt hiện chưa có thay đổi. “Tất cả những gì do Bộ Quốc phòng đặt ra chúng tôi sẽ hoàn thành. Nhìn chung, tất cả đều bình thường”, ông Lebedev nói.

Theo kế hoạch, việc thử nghiệm UAV sẽ bắt đầu vào năm 2014 và bắt đầu sản xuất loạt vào cuối năm 2014.
Cũng từ đó lực lượng chức năng phát hiện có nhiều xe dù núp bóng chở bệnh nhân từ Quảng Ngãi ra Đà Nẵng, nên tuần tra và xử phạt gắt gao. Trước tình hình đó, các xe khách này không dám hoạt động ngang nhiên nữa, mà tổ chức một bến cóc hoạt động âm thầm bên bờ hồ trên đường Hàm Nghi. Họ cũng chia phiên nhau khá tuần tự. Cứ 30 phút một xe đậu đỗ, phụ xe vào bệnh viện trèo kéo khách về Quảng Ngãi rồi lấy xe máy chở ra bến cóc để đưa khách lên xe. Cũng theo tìm hiểu của chúng tôi, tại Quảng Ngãi, các xe này không hề đăng ký hoạt động tuyến bến, mà đi tất các huyện, thành để đón khách. Họ thông báo rộng rãi số điện thoại nhà xe cho người dân, ai có nhu cầu ra Đà Nẵng, gọi điện là có xe đến tận nhà đón.
Việc để tồn tại các nhà xe không đăng ký, đội ngũ xe dù hùng hậu hoạt động ngang nhiên luôn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, mất trật tự trị an, thêm nữa, khách đi xe không có bảo hiểm, nếu gặp tai nạn sẽ không được hưởng quyền lợi đầy đủ.

Pháo phòng không tự hành Gepard đến Brazil

VietnamDefence - Brazil đã nhận được lô đầu gồm 8 pháo phòng không tầm gần tự hành đã qua sử dụng Gepard 1A2.
infodefensa.com
Hợp đồng mua 34 pháo tự hành này từ biên chế Lục quân Đức trị giá 30 triệu euro. Nhà cung cấp là công ty sản xuất Krauss-Mafei Wegmann. Việc giao hàng dự định hoàn thành vào năm 2015.

Có tin Brazil chọn Gepard vì chúng sử dụng khung gầm tăng chủ lực Leopard 1 mà Brazil cũng đang sử dụng. Các xe tăng lạc hậu Leopard 1A1/1A5 và xe công binh trên cơ sở tăng này sau khi bị loại bỏ dự kiến sẽ được rã ra để lấy phụ tùng cho Gepard.

Các xe Gepard bán cho Brazil trước đó đã được hiện đại hóa ở Đức. Sau khi được Brazil nhận vào trang bị, chúng sẽ được phân hãng của Krauss-Mafei Wegmann tại Brazil phụ trách bảo dưỡng. Brazil dự định sử dụng các hệ thống pháo phòng không tự hành Gepard để bảo đảm an ninh cho Cúp bóng đá liên lục địa sẽ diễn ra từ ngày 15-30/6/2013.
Theo tìm hiểu của PV Báo GTVT, đây chính là bến cóc cho hơn chục xe dù chở bệnh nhân và người nhà bệnh nhân từ Quảng Ngãi đi khám chữa bệnh tại Đà Nẵng. Trước năm 2008, đoàn xe này hoạt động ngang nhiên và có sự bảo kê của một băng xã hội đen. Từ khi Bệnh viện Hoàn Mỹ (Đà Nẵng) đi vào hoạt động (năm 2004), băng nhóm này đứng ra bảo kê xe khách Quảng Ngãi chở bệnh nhân khám chữa bệnh tại bệnh viện này. Chúng thu của chủ xe 5.000 đồng/bệnh nhân và tham gia chèo kéo khách cho các xe này. Tuy nhiên, càng về sau băng nhóm bảo kê này ép xe dù Quảng Ngãi để thu tiền ghê quá, số tiền tăng lên 50.000 đồng/xe rồi 100.000 đồng/xe. Nếu các chủ xe không chịu đưa tiền, chúng sẽ khống chế, dọa nạt, đập phá, không cho xe đậu đỗ trước khu vực bệnh viện.
Tức quá nhóm xe Quảng Ngãi tố bọn bảo kê và tháng 7/2008, Công an TP Đà Nẵng đã ra quyết định bắt tạm giam và khởi tố tội danh “Cưỡng đoạt tài sản” đối với Nguyễn Như Dũng, Lê Anh Minh, Lê Anh Việt, Nguyễn Ngọc Đại Trường, Nguyễn Quang Tâm (cùng trú tại P.Thạc Gián) và Phạm Trần Công Trường (P.Hòa Khê).

11/52 tàu chiến tàng hình Mỹ sẽ đến châu Á

VietnamDefence - Mặc dù ngày càng có nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề trội giá quá mức và khả năng sống sót trong một cuộc xung đột, Hải quân Mỹ vẫn có kế hoạch điều 11 tàu chiến tàng hình LCS đến khu vực Thái Bình Dương vào năm 2022, Tư lệnh Hải quân Mỹ, Đô đốc Jonathan Greenert cho biết.
Phát biểu tại triển lãm hải quân quốc tế IMDEX tại Singapore hôm thứ ba, 14/5/2013, Đô đốc Greenert nói rằng, Hải quân Mỹ hy vọng cuối cùng sẽ triển khai 4 chiến hạm LCS đến Singapore vào năm 2022, còn 7 chiếc còn lại triển khai ở Sasebo, Nhật Bản, nơi chúng sẽ thay thế các tàu tác chiến chống thủy lôi hiện đang đóng ở đó.

LCS là một tàu nổi cao tốc, cơ động và đa nhiệm, được thiết kế đặc biệt để hoạt động ở vùng nước nông ven biển, đối phó với một số mối đe dọa phi đối xứng mới nổi, kể cả những thách thức từ chiến lược chống tiếp cận của Trung Quốc.

Hải quân Mỹ đã lần đầu tiên đặt mua LCS vào năm 2004 và theo kế hoạch đóng tàu 30 năm gần đây nhất sẽ mua tổng cộng 52 tàu, giảm so với 82 tàu dự kiến vào đầu năm 2005. LCS có 2 biến thể là Freedom và Independence đang được đóng tương ứng bởi Lockheed Martin và General Dynamics.

Chiếc LCS đầu tiên là USS Freedom (LCS 1) đã rời cảng nhà ở San Diego vào tháng 3/2015 và đến Singapore vào giữa tháng 4 để bắt đầu đợt triển khai dài 8 tháng trong chuyến đi nước ngoài đầu tiên của mình. Dự kiến, nó sẽ tham gia IMDEX trong tuần này.Các xe Gepard bán cho Brazil trước đó đã được hiện đại hóa ở Đức. Sau khi được Brazil nhận vào trang bị, chúng sẽ được phân hãng của Krauss-Mafei Wegmann tại Brazil phụ trách bảo dưỡng. Brazil dự định sử dụng các hệ thống pháo phòng không tự hành Gepard để bảo đảm an ninh cho Cúp bóng đá liên lục địa sẽ diễn ra từ ngày 15-30/6/2013.

Gepard có trọng lượng 47,5 tấn, được trang bị 2 pháo 35 mm Oerlikon KDA, 1 ống phóng đạn khói 76 mm. Ngoài ra, xe còn được trang bị 1 máy đo xa laser, các radar phát hiện, bám và dẫn bắn. Radar có tầm hoạt động đến 15 km, pháo có tầm bắn hiệu quả đến 5,5 km.

GDP tỉnh nào cũng tăng cao nhưng cả nước lại giảm?




Đây là thắc mắc của ĐB Bùi Thị An (Hà Nội) trong phiên thảo luận tại tổ về tình hình KT-XH ngày 22/5. Đại biểu An đề nghị Chính phủ xem lại số liệu thống kê và kiến nghị Tổng cục Thống kê nên trực thuộc Quốc hội.
Số liệu tròn trịa có chính xác?
Đại biểu Đinh Xuân Thảo phát biểu tại Đoàn Hà Nội: “Báo cáo của Chính phủ, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính Ngân sách và báo cáo tổng hợp ý kiến nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có sự vênh nhau. Cần làm rõ báo cáo nào không chính xác. Báo cáo của Chính phủ thì tình hình nói chung là tốt, chỉ có chỉ tiêu tăng trưởng GDP không đạt, các chỉ tiêu khác rất tròn trịa, con số như thế liệu có chính xác hay không?”. Ông Thảo cũng đề nghị thận trọng đánh giá lại tình hình kinh tế để cân nhắc có nên điều chỉnh chỉ tiêu cho cả năm hay không?

Đồng tình với ý kiến này, Đại biểu Bùi Thị An (Hà Nội) cho rằng, đồng chí A bảo tốt, đồng chí B bảo chưa tốt, số liệu nợ công, thất nghiệp, doanh nghiệp giải thể trong các báo cáo đều chưa khớp nhau. Tôi đi nhiều tỉnh thấy tỉnh nào GDP cũng tăng cao nhưng cả nước lại đạt có 5,05%. Tôi kiến nghị Tổng cục Thống kê nên trực thuộc Quốc hội.Các đơn vị chiến binh mạng sẽ bao gồm các chuyên gia lập trình và các chuyên gia mạng máy tính có nhiệm vụ trước hết là bảo vệ các hệ thống của nhà nước và quốc phòng chống các hành động của hacker. 

Năm 2015, dự kiến sẽ thành lập cả Trung tâm An ninh mạng trực thuộc chính phủ Nhật.

Hội đồng về các biện pháp an toàn thông tin đã thông qua chương trình thành lập binh chủng mới và việc này sẽ bắt đầu được thực hiện vào tháng 6/2013. Diễn ra trước khi thành lập binh chủng tác chiến mạng của Nhật là những cuộc tham vấn dài với Mỹ, đồng minh chủ yếu của Nhật Bản. 

Đầu tháng 5/2013, Washington và Tokyo đã tiến hành hội nghị chung về các vấn đề an ninh mạng. Tại hội nghị, đã thảo luận các vấn đề bảo vệ các cơ quan và tổ chức của chính phủ trước các loại virus và yếu tố thù địch.

Hội nghị ở Tokyo diễn ra trong khi quan hệ Trung-Mỹ lại căng thẳng do các vấn đề an ninh mạng. Mỹ cáo buộc quân đội Trung Quốc thiết lập mạng gián điệp điện tử toàn cầu. Bắc Kinh bác bỏ mọi cáo buộc và đòi Washington đưa ra chứng cứ khẳng định những cáo buộc đó.

Nhật Bản thành lập bộ đội tác chiến mạng

VietnamDefence - Chính phủ Nhật Bản đang chuẩn bị cho việc thành lập một lực lượng quân đội đặc biệt.
Lực lượng này sẽ làm nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan chính phủ lớn nhất trước các cuộc tấn công kỹ thuật số từ phía “kẻ thù tiềm tàng”. 

Trước khi thành lập “bộ đội tác chiến mạng” các quan chức Tokyo đã tiến hành một loạt tư vấn với các đối tác từ Washington.

Là một tiền đồn, Nhật Bản hiểu rõ rằng, sắp tới, các mối đe dọa thông tin có thể bắt cả nền kinh tế và công nghiệp Nhật phải quỳ gối. Do đó, việc thành lập một đơn vị như vậy có tầm quan trọng sống còn. Nhưng cũng không thể loại trừ khả năng lực lượng quân đội này sẽ được sử dụng cả để tấn công.

Quyết định thành lập binh chủng mới đã được Hội đồng về các biện pháp an toàn thông tin. Hội đồng này do Tổng thư ký nội các Nhật Yoshihide Suga. 

“Chúng tôi cần thiết lập ở Nhật Bản một khu vực an toàn cho hoạt động mạng tương xứng với một đất nước có những tiêu chuẩn thông tin hạng nhất”, Thủ tướng Nhật Shinzō Abe tuyên bố tại phiên họp.Đại biểu Đinh Xuân Thảo khẳng định, việc thực hiện nhiệm vụ năm 2013 rất khó khăn chứ không phải thuận lợi nhiều hơn như trong báo cáo. Đơn cử việc thực hiện Đề án cải cách tiền lương cũng chưa biết đến lúc nào thực hiện được. Chúng ta chưa có nguồn để làm được việc này.
Khẳng định lãi suất không còn là rào cản với việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp mà vấn đề cốt lõi là sức mua yếu, doanh nghiệp tồn kho hàng nhiều, vốn chủ sở hữu không có nên tạo ra vòng luẩn quẩn. Ngân hàng có tiền không thể cho vay, người muốn vay lại không đủ điều kiện, nợ xấu gia tăng, Đại biểu Phạm Huy Hùng, Chủ tịch Vietinbank phân tích.
Cũng theo Đại biểu Hùng, để xử lý nợ xấu cần sự hỗ trợ của ngân sách hoặc vốn vay nước ngoài. Mỹ thậm chí đã bơm hàng nghìn tỷ USD để mua lại trái phiếu ngân hàng. Trong quỹ dự trữ ngoại tệ của chúng ta nên mạnh dạn đưa ra khoảng 10 tỷ USD để xử lý tình huống cần tháo gỡ hiện nay.

Những cuốn sách chấn động nước Mỹ về chiến tranh Việt Nam

Cập nhật, 23:26, Thứ Sáu, 26/04/2013 (GMT+7)
Cuốn sách Những thứ họ mang (The Things They Carry) của nhà văn người Mỹ Tim O'brien đang gây chú ý lớn trong thời gian gần đây khi nhiều người phản ứng với những từ ngữ tục, không chuẩn trong bản dịch tiếng Việt. Tuy nhiên, vượt lên trên những lùm xùm thì đây vẫn là một trong những tác phẩm giá trị nhất của các tác giả Mỹ về chiến tranh Việt Nam.
Được viết bởi cựu binh từng tham chiến ở Sơn Mỹ, “Những thứ họ mang” là tuyển tập 22 câu chuyện nhỏ xảy ra từ trước, trong và sau cuộc chiến. Với lối trình bày kết hợp giữa thực tế và trí tưởng tượng, vừa là hồi ức của tác giả, vừa là trải nghiệm chiến tranh nhằm nói lên hậu quả tinh thần nặng nề đè nặng lên tâm hồn người trong cuộc. Người kể chuyện trong “Những thứ họ mang” đó giết chết một anh lính và cứ tự hỏi người đó là người thế nào. Trong khi các đồng ngũ vui mừng thì anh ta vẫn day dứt với ý nghĩ là mình đã cướp đi mạng sống của một con người.
“Những thứ họ mang” là cuốn sách thứ ba viết trên những trải nghiệm sau một năm tham chiến (1969-1970) thuộc đại đội Alpha ở Tây Nguyên của Tim O’Brien, vừa được nhà xuất bản Houghton Mifflin Harcourt tái bản thêm nhân kỷ niệm 20 năm.
Cuốn sách Kill anything that move (trái) và tác giả Nick Turse             Nguồn: Thecontributor.com
Cuốn sách Kill anything that move (trái) và tác giả Nick Turse.
Nguồn: Thecontributor.com
Cuốn sách được chọn vào tuyển tập Những truyện ngắn hay nhất của Mỹ năm 1987, Những truyện ngắn hay nhất của Mỹ những năm 1980, vào vòng chung khảo giải Pulitzer dành cho tiểu thuyết năm 1991 và danh sách bình chọn giải thưởng về phê bình sách quốc gia cùng năm.Quyết định thành lập binh chủng mới đã được Hội đồng về các biện pháp an toàn thông tin. Hội đồng này do Tổng thư ký nội các Nhật Yoshihide Suga. 

“Chúng tôi cần thiết lập ở Nhật Bản một khu vực an toàn cho hoạt động mạng tương xứng với một đất nước có những tiêu chuẩn thông tin hạng nhất”, Thủ tướng Nhật Shinzō Abe tuyên bố tại phiên họp.

Các đơn vị chiến binh mạng sẽ bao gồm các chuyên gia lập trình và các chuyên gia mạng máy tính có nhiệm vụ trước hết là bảo vệ các hệ thống của nhà nước và quốc phòng chống các hành động của hacker. 

Năm 2015, dự kiến sẽ thành lập cả Trung tâm An ninh mạng trực thuộc chính phủ Nhật.

Hội đồng về các biện pháp an toàn thông tin đã thông qua chương trình thành lập binh chủng mới và việc này sẽ bắt đầu được thực hiện vào tháng 6/2013. Diễn ra trước khi thành lập binh chủng tác chiến mạng của Nhật là những cuộc tham vấn dài với Mỹ, đồng minh chủ yếu của Nhật Bản. 

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013


Liên Xô "chia lửa" với Việt Nam trong chiến tranh biên giới thế nào?




Ngày 16/2/1979, Đặng Tiểu Bình tuyên bố khả năng một cuộc chiến tranh tổng lực chống Liên Xô. Dọc tuyến biên giới Xô - Trung đã tập trung khoảng 1,5 triệu quân PLA, phía Liên Xô đã triển khai hơn 40 sư đoàn...
Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước năm 1975, do những vấn đề phức tạp trong quan hệ giữa các nước trong khối XHCN, Việt Nam khẳng định đường lối chính trị độc lập, tự chủ, không phụ thuộc đã duy trì mối quan hệ chính trị bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và không can thiệp vào nội bộ của nhau với các nước trong khối XHCN.
Liên Xô chia lửa với Việt Nam trong chiến tranh biên giới thế nào?
Tháng 12/1979. Đô đốc Hạm đội Liên bang Xô Viết S.G.Gorshkov, Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô đến Hà Nội để đặt quan hệ công tác với Bộ Quốc phòng CHXHCN Việt Nam. Trong ảnh là Tư lệnh Hải quân Việt Nam, Thiếu tướng Giáp Văn Cương đón đoàn.

Trong bầu không khí đối ngoại chính trị căng thẳng sau chiến tranh khốc liệt, Việt Nam nhanh chóng xác định được thực chất những vấn đề phức tạp đang nảy sinh trong quan hệ quốc tế và xác định rõ Liên bang Xô Viết là người bạn chung thủy và đáng tin cậy nhất trong giai đoạn này.
Nhưng Việt Nam vẫn duy trì mối quan hệ bình đẳng về ngoại giao với hai nước lớn trong khối XHCN đến trước năm 1979. Chiến lược chi phối toàn bộ khu vực châu Á - Thái Bình Dương và những âm mưu đầy tham vọng của nước láng giềng nhằm thực hiện sách lược đã nêu buộc nhà nước Việt Nam phải tiến hành những bước đi vững chắc nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, một trong những bước đi kiên quyết đó là gắn kết với Liên Xô trong một mối quan hệ đoàn kết hữu nghị trên tầm chiến lược.
Tuy được sự giúp đỡ rất lớn của Trung Quốc trong chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam, các rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Trung Quốc đã bắt đầu thể hiện từ năm 1968. Hà Nội nhất định cùng lúc giữ mối quan hệ nồng ấm với cả Moscow lẫn Bắc Kinh trong khi mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc đã lên cao. Bất đồng quan điểm giữa Hà Nội và Bắc Kinh về cách tiến hành cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam trở nên rõ rệt. Bắc Kinh muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi Hà Nội muốn tiến hành chiến tranh quy mô để thống nhất Tổ quốc của họ.[7] Và hơn thế nữa, họ muốn trực tiếp đàm phán với Hoa Kỳ, không cần thông qua một nước nào làm trung gian.[8] Sau sự kiện Tết Mậu Thân, Hà Nội bắt đầu đàm phán với Hoa Kỳ, trong khi đó Bắc Kinh phản đối.[7]
Năm 1972, chuyến thăm của tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh và thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc được Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xem là một sự phản bội.[9] Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc Kinh, Lê Duẩn thẳng thừng từ chối đưa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc, phủ nhận quan niệm của Trung Quốc rằng chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á. Ông rời Trung Quốc mà không tổ chức tiệc đáp lễ theo truyền thống, cũng không ký thỏa thuận chung. Cũng trong chuyến thăm này, Trung Quốc thông báo rằng sẽ không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973.[10] Bắc Kinh bắt đầu nói về một Việt Nam "hắc tâm", "vô ơn", "ngạo ngược".[9] Viện trợ của Trung Quốc sau đó giảm mạnh và đến năm 1978 thì cắt toàn bộ. Điều kiện đầu tiên Trung Quốc đặt ra cho Việt Nam để nối lại viện trợ là phải từ chối tất cả các khoản viện trợ của Liên Xô.[11]
Khi Việt Nam ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô, Trung Quốc thấy mình bị đe dọa từ hai phía. Đồng thời, Việt Nam cũng đang cố gắng xây dựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước Đông Dương trong đó Việt Nam giữ vị thế đứng đầu. Cùng với thực tế rằng nước Việt Nam thống nhất đã trở thành một sức mạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc. Những điều này làm cho Trung Quốc lo ngại về một "tiểu bá quyền" Việt Nam[12] và việc bị Liên Xô bao vây từ phía bắc. Một nước Campuchia chống Việt Nam đã trở thành một đồng minh quan trọng đối với Trung Quốc.
Quan hệ Việt Nam - Campuchia ngày càng đi xuống, thể hiện ngay từ tháng 5 năm 1975 khi Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu và bắt đi hàng trăm dân thường, lên cao trào vào những năm 1977-1978 khi Khmer Đỏ nhiều lần đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam tàn sát hàng chục nghìn dân thường. Trong suốt thời gian đó và cả về sau, Trung Quốc luôn là nước viện trợ đắc lực cho Khmer Đỏ về vũ khí khí tài cũng như cố vấn quân sự. Bên cạnh các nỗ lực ngoại giao không thành nhằm xoa dịu căng thẳng với Trung Quốc và Campuchia,[13] Việt Nam tin rằng Trung Quốc đang sử dụng Campuchia để tấn công Việt Nam.[12]
Từ năm 1973Liên Hiệp Quốc bắt đầu thảo luận về vấn đề chủ quyền của các quốc gia đối với vùng đặc quyền kinh tế trên biển. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định tuyên bố chủ quyền với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa theo hiệp ước Pháp-Thanh kí kết năm 1887. Về phía Trung Quốc, với cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970 nước này đã tìm kiếm các nguồn khai thác dầu mỏ trên biển Đông sát với Việt Nam, một hành động mà theo Việt Nam là chiến lược bao vây đất nước họ.[14] Tranh chấp giữa hai nước về hai quần đảo này đã bắt đầu ngay từ năm 1975 sau khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo này.[15]

Tuy được sự giúp đỡ rất lớn của Trung Quốc trong chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam, các rạn nứt trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Trung Quốc đã bắt đầu thể hiện từ năm 1968. Hà Nội nhất định cùng lúc giữ mối quan hệ nồng ấm với cả Moscow lẫn Bắc Kinh trong khi mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc đã lên cao. Bất đồng quan điểm giữa Hà Nội và Bắc Kinh về cách tiến hành cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam trở nên rõ rệt. Bắc Kinh muốn Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kích có giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi Hà Nội muốn tiến hành chiến tranh quy mô để thống nhất Tổ quốc của họ.[7] Và hơn thế nữa, họ muốn trực tiếp đàm phán với Hoa Kỳ, không cần thông qua một nước nào làm trung gian.[8] Sau sự kiện Tết Mậu Thân, Hà Nội bắt đầu đàm phán với Hoa Kỳ, trong khi đó Bắc Kinh phản đối.[7]
Năm 1972, chuyến thăm của tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh và thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc được Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xem là một sự phản bội.[9] Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc Kinh, Lê Duẩn thẳng thừng từ chối đưa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào liên minh chống Liên Xô của Trung Quốc, phủ nhận quan niệm của Trung Quốc rằng chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á. Ông rời Trung Quốc mà không tổ chức tiệc đáp lễ theo truyền thống, cũng không ký thỏa thuận chung. Cũng trong chuyến thăm này, Trung Quốc thông báo rằng sẽ không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973.[10] Bắc Kinh bắt đầu nói về một Việt Nam "hắc tâm", "vô ơn", "ngạo ngược".[9] Viện trợ của Trung Quốc sau đó giảm mạnh và đến năm 1978 thì cắt toàn bộ. Điều kiện đầu tiên Trung Quốc đặt ra cho Việt Nam để nối lại viện trợ là phải từ chối tất cả các khoản viện trợ của Liên Xô.[11]
Khi Việt Nam ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô, Trung Quốc thấy mình bị đe dọa từ hai phía. Đồng thời, Việt Nam cũng đang cố gắng xây dựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước Đông Dương trong đó Việt Nam giữ vị thế đứng đầu. Cùng với thực tế rằng nước Việt Nam thống nhất đã trở thành một sức mạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc. Những điều này làm cho Trung Quốc lo ngại về một "tiểu bá quyền" Việt Nam[12] và việc bị Liên Xô bao vây từ phía bắc. Một nước Campuchia chống Việt Nam đã trở thành một đồng minh quan trọng đối với Trung Quốc.
Quan hệ Việt Nam - Campuchia ngày càng đi xuống, thể hiện ngay từ tháng 5 năm 1975 khi Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu và bắt đi hàng trăm dân thường, lên cao trào vào những năm 1977-1978 khi Khmer Đỏ nhiều lần đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam tàn sát hàng chục nghìn dân thường. Trong suốt thời gian đó và cả về sau, Trung Quốc luôn là nước viện trợ đắc lực cho Khmer Đỏ về vũ khí khí tài cũng như cố vấn quân sự. Bên cạnh các nỗ lực ngoại giao không thành nhằm xoa dịu căng thẳng với Trung Quốc và Campuchia,[13] Việt Nam tin rằng Trung Quốc đang sử dụng Campuchia để tấn công Việt Nam.[12]
Từ năm 1973Liên Hiệp Quốc bắt đầu thảo luận về vấn đề chủ quyền của các quốc gia đối với vùng đặc quyền kinh tế trên biển. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định tuyên bố chủ quyền với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa theo hiệp ước Pháp-Thanh kí kết năm 1887. Về phía Trung Quốc, với cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970 nước này đã tìm kiếm các nguồn khai thác dầu mỏ trên biển Đông sát với Việt Nam, một hành động mà theo Việt Nam là chiến lược bao vây đất nước họ.[14] Tranh chấp giữa hai nước về hai quần đảo này đã bắt đầu ngay từ năm 1975 sau khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo này.[15]


Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

post by: Vuong_satma



Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Một phần của Chiến tranh Đông Dương lần 3


.

Thời gian 17 tháng 2 – 18 tháng 3 năm 1979
Địa điểm Toàn tuyến biên giới phía bắc của Việt Nam.
Nguyên nhân bùng nổ Căng thẳng quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thập niên 1970
Kết quả Trung Quốc rút quân. Cả hai phía tuyên bố chiến thắng.
Thay đổi lãnh thổ Không thay đổi đáng kể

Tham chiến
Giải phóng quân Trung Quốc Quân đội Nhân dân Việt Nam
Chỉ huy
Dương Đắc Chí
Hứa Thế Hữu Văn Tiến Dũng
Đàm Quang Trung
Vũ Lập

Lực lượng
300.000-400.000+ bộ binh và 400 xe tăng, hàng chục vạn dân công hỗ trợ vận tải (theo Việt Nam có hơn 600.000 lính Trung Quốc tham chiến)[1]
(lực lượng của 7 quân đoàn với 21 sư đoàn tác chiến, 9 sư đoàn dự bị)[2] 60.000-100.000
(7 sư đoàn, 15 trung đoàn độc lập, biên phòng và dân quân tự vệ)[2]
Tổn thất
Tranh cãi, 20.000+ bị giết [3]Việt Nam tuyên bố 26.000 chết, 37.000 bị thương, 280 xe tăng bị phá hủy.[3]
Nguồn 2: ~13.000 chết[4]
Trung Quốc tuyên bố 6.900 chết, 15.000 bị thương[1]
Tranh cãi, 20.000 chết hoặc bị thương.[1]
Nguồn 2: ~8.000 chết[4]
Trung Quốc tuyên bố 30.000 chết.[3]
Việt Nam tuyên bố 10.000 dân thường bị thiệt mạng[1]
.



[hiện]

s
Chiến tranh và xung đột trên bán đảo Đông Dương



Chiến tranh Việt Nam - Trung Quốc, 1979 hay thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979 là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc xua quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước.

Chiến tranh biên giới Việt - Trung bắt nguồn từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia, kéo dài trong chừng một tháng với thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho cả hai phía. Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc hoàn thành rút quân vào ngày 18 tháng 3 năm1979, sau khi chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn vùng biên. Mục tiêu của Trung Quốc buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia không thành, nhưng cuộc chiến để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và quan hệ căng thẳng giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới còn tiếp diễn thêm 10 năm. Hơn 13 năm sau, quan hệ ngoại giao Việt-Trung chính thức được bình thường hóa.



Vào rạng sáng ngày 17.2.1979, quân đội nước láng giềng sau hàng loạt những hành động khiêu khích đã tiến hành cuộc chiến tranh trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam. Trước khi nổ ra cuộc chiến một thời gian, ngày 29.6.1978 Việt Nam đã gia nhập CMEA. Ngày 3.11.1978 tại Moscow, đại diện nhà nước Liên bang Xô Viết và Việt Nam đã ký kết Hiệp ước hữu nghị Xô-Việt. Ngoài các điều kiện tiêu chuẩn của hiệp ước về hợp tác thương mại và văn hóa, hiệp ước có được những vấn đề quan trọng về quốc phòng như một hiệp ước về "phòng thủ chung" có nghĩa là "tham khảo ý kiến ​​chung và hành động hiệu quả để đảm bảo an ninh quốc phòng của cả hai nước."


Cảng Cam Ranh tháng 3-1979, các thành viên tàu BPK "Vasily Chapaev" và sỹ quan chiến sỹ vùng 4 hải quân Việt Nam chụp ảnh lưu niệm.






Nhưng dấu hiệu của sự gia tăng của hợp tác Xô-Việt trở thành hiện thực vào mùa hè năm 1978, trong bối cảnh mâu thuẫn ngày càng tăng giữa Việt Nam với nước láng giềng. Theo các nguồn tin chính thức của Hoa Kỳ vào tháng 8.1978, Việt Nam có 4.000 cố vấn và chuyên gia Liên Xô và đến giữa năm 1979 con số đã tăng lên đến 5.000-8.000. Tháng 9.1978, Liên Xô bắt đầu thực hiện việc cung cấp vũ khí mới (máy bay, tên lửa phòng không, xe tăng và vũ khí, đạn dược, cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh) cho Việt Nam bằng đường hàng không và đường biển.

Cũng vào thời điểm đó, quan hệ Xô – Trung trở nên vô cùng căng thẳng và có rất nhiều trở ngại lớn. Ngày 1.11.1977, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Trung quốc, tờ Nhân dân nhật báo trong một bài xã luận đã gọi Liên Xô như một kẻ thù nguy hiểm nhất của Trung Quốc, đồng thời coi Mỹ như là một đồng minh. Ngày 26.4.1978. Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu bổ sung thêm vào điều kiện công nhận sự tồn tại các vấn đề tranh chấp khu vực trên biên giới Trung-Xô. Trung Quốc đòi quân đội Liên Xô phải hoàn toàn triệt thoái khỏi Mông Cổ, đồng thời giảm số lượng các lực lượng vũ trang trên suốt tuyến biên giới Trung-Xô.

Đáp trả lại yêu cầu ngang ngược của Bắc Kinh, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev, vào đầu tháng 4.1978 khi đi thăm Siberia và Hạm đội Thái Bình Dương, đã tuyên bố rằng sẽ triển khai trên tuyến biên giới các hệ thống vũ khí mới, ngoài những hệ thống vũ khí trang bị hiện đại đã có sẵn trên biên giới Trung-Xô. Các loại vũ khí mới này, theo tuyên bố của Leonid Brezhnev có khả năng đảm bảo an ninh biên giới cho Liên bang Xô Viết và các nước đồng minh, chống lại mọi âm mưu xâm lược của thế lực nước ngoài.





Liên Xô chia lửa với Việt Nam trong chiến tranh biên giới thế nào?

Quyết tâm của Việt Nam

2 ngày từ 13-15/3, lính Thái đóng ở đây đã chứng kiến sự sụp đổ nhanh chóng của hai trung tâm đề kháng mạnh nhất do những đơn vị Âu Phi tinh nhuệ bảo vệ. Họ đã nhìn tận mắt binh lính dù đi cứu viện bị đánh bật và những chiếc xe tăng dính đầy máu từ đồi độc lập chạy về Mường Thanh dưới những làn đạn bắn đuổi. Trung đoàn 36 được phân công tiêu diệt Bản Kéo, nhận thấy có khả năng giải quyết không cần tới một trận đánh.
Trưa ngày 15, đại úy Clácsăm (Clarchambre), chỉ huy những cứ điểm nằm trên đồi Bản Kéo, nhận được một lá thư của đơn vị QĐNDVN tại Gabơriel, do một lính Angiêri bị thương đưa tới. Trong thư hẹn 7 giờ sáng hôm sau (ngày 16 tháng 3 năm 1954), cử người tới bãi ruộng bên bờ suối phía đông - bắc, nhận những thương binh của tiểu đoàn 5 Angiêri sẽ được trao trả, kèm theo lời kêu gọi: "Toàn bộ binh sĩ ở Bản Kéo hãy ra hàng để trách bị tiêu diệt trong một ngày sắp tới". Clácsăm phải báo cáo điều này với Mường Thanh. Mường Thanh thấy không thể khước từ một đề nghị như vậy.
Ngày 16 tháng 3, một viên trung úy và một số binh lính Thái có mặt đúng giờ ở địa điểm với những chiếc cáng thương. Binh sĩ tiểu đoàn 5 bị thương đã được băng bó cẩn thận, đang nằm chờ.
Tiếng loa của QĐNDVN kêu gọi lính Thái hãy trở về mường bản, không theo Pháp, không dùng súng giết hại đồng bào. Nhiều truyền đơn được tán phát cả bên trong cứ điểm. Dưới chân đồn Bản Kéo xuất hiện một bức tranh lớn. Đập vào mắt mọi người là hình ảnh một đoàn lính Thái rời bỏ vị trí kèm theo dòng chữ: "Quay trở về với Tổ quốc, với đồng bào, các anh sẽ được đón tiếp tử tế".[1]
Sáng ngày 17, đồn Bản Kéo xôn xao vì có tin bộ đội sắp tiến công. Buổi trưa, từng đám binh lính Thái kéo tới gặp viên đại úy đồn trưởng, nêu hai yêu sách: "Một, phải phát hết khẩu phần lương thực. Hai, giải tán đồn cho binh lính về quê hương làm ăn.” Clácsăm vội điện cho Mường Thanh: "Chúng tôi buộc phải bỏ vị trí rút về khu trung tâm đây!". Và Clácsăm mở cổng đồn, ra lệnh cho binh lính theo mình về sân bay. Nhưng binh lính không còn nghe theo lời chỉ huy, ào ào chạy về phía khu rừng. Viên đại úy vội gọi điện về Mường Thanh, yêu cầu cho pháo bắn chặn đường rút chạy của binh sĩ Thái nhưng cũng không ngăn cản được.Lực lượng QĐNDVN tham gia gồm 11 trung đoàn bộ binh thuộc các đại đoàn bộ binh (304, 308, 312, 316), 1 trung đoàn công binh, 1 trung đoàn pháo binh 105 ly (24 khẩu), 1 trung đoàn pháo binh 75 ly (24 khẩu) và súng cối 120 ly (16 khẩu), 1 trung đoàn cao xạ 24 khẩu 37 ly (367)(sau được tăng thêm một tiểu đoàn 12 khẩu) vốn là phối thuộc của đại đoàn công pháo 351 (công binh – pháo binh). Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh chiến dịch. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Thiếu tướng Đặng Kim Giang làm Chủ nhiệm cung cấp chiến dịch. Ông Lê Liêm làm Chủ nhiệm chính trị chiến dịch.
Bộ chỉ huyĐại đoànTrung đoànTiểu đoànGhi chú
Bộ chỉ huy chiến dịch
Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy: Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Tham mưu trưởngThiếu tướng Hoàng Văn Thái
Chủ nhiệm cung cấp: Thiếu tướng Đặng Kim Giang
Chủ nhiệm chính trị: Lê Liêm
Đại đoàn bộ binh 304 (thiếu)
Danh hiệu: Vinh Quang
Mật danhNam Định
Tư lệnh: Đại tá Hoàng Minh Thảo
Chính ủy: Lê Chưởng
Tham mưu trưởng: Nam Long
Trung đoàn bộ binh 9
Chỉ huy: Trần Thanh Tú
Tiểu đoàn 353
Tiểu đoàn 375
Tiểu đoàn 400
Tham gia từ đợt 3
Trung đoàn bộ binh 57
Chỉ huy: Nguyễn Cận
Tiểu đoàn 265
Tiểu đoàn 346
Tiểu đoàn 418
Đại đoàn bộ binh 308
Danh hiệu: Quân Tiên Phong
Mật danhViệt Bắc
Tư lệnh: Đại tá Vương Thừa Vũ
Chính ủy: Song Hào
Tham mưu trưởng: Nguyễn Hải
Trung đoàn bộ binh 36
Danh hiệu: Bắc Bắc
Mật danhSa Pa
Chỉ huy: Phạm Hồng Sơn
Tiểu đoàn 80
Tiểu đoàn 84
Tiểu đoàn 89
Trung đoàn bộ binh 88
Danh hiệuTu Vũ
Mật danhTam Đảo
Chỉ huy: Nam Hà
Tiểu đoàn 23
Tiểu đoàn 29
Tiểu đoàn 322
Trung đoàn bộ binh 102
Danh hiệuThủ đô
Mật danhBa Vì
Chỉ huy: Nguyễn Hùng Sinh
Tiểu đoàn 18
Tiểu đoàn 54
Tiểu đoàn 79
Đại đoàn bộ binh 312
Danh hiệuChiến Thắng
Mật danhBến Tre
Tư lệnh: Lê Trọng Tấn
Chính ủy: Trần Độ
Tham mưu trưởng: Hoàng Kiện
Trung đoàn bộ binh 141
Danh hiệu:
Mật danh:
Chỉ huy: Quang Tuyến
Tiểu đoàn 11
Tiểu đoàn 16
Tiểu đoàn 428
Trung đoàn bộ binh 165
Danh hiệu: Lao Hà Yên, Thành đồng biên giới
Mật danhĐông Triều
Chỉ huy: Lê Thùy
Tiểu đoàn 115
Tiểu đoàn 542
Tiểu đoàn 564
Trung đoàn bộ binh 209
Danh hiệuSông Lô
Mật danh:
Chỉ huy: Hoàng Cầm
Tiểu đoàn 130
Tiểu đoàn 154
Tiểu đoàn 166
Đại đoàn bộ binh 316
Danh hiệuBông Lau
Mật danhBiên Hòa
Tư lệnh: Đại tá Lê Quảng Ba
Chính ủy Chu Huy Mân
Tham mưu trưởng: Vũ Lập
Trung đoàn bộ binh 98
Danh hiệu:
Mật danh:
Chỉ huy: Vũ Lăng
Tiểu đoàn 215
Tiểu đoàn 439
Tiểu đoàn 938
Trung đoàn bộ binh 174
Danh hiệu: Cao Bắc Lạng
Mật danhSóc Trăng
Chỉ huy Nguyễn Hữu An
Tiểu đoàn 249
Tiểu đoàn 251
Tiểu đoàn 255
Trung đoàn bộ binh 176
Danh hiệu:
Mật danh:
Chỉ huy:
Tiểu đoàn 888
Tiểu đoàn 910
Tiểu đoàn 999
Tiểu đoàn 888 từ đợt 2
Còn lại từ đợt 3
Đại đoàn công pháo 351
Danh hiệu:
Mật danhLong Châu
Tư lệnh: Đào Văn Trường(quyền)
Chính ủy Phạm Ngọc Mậu
Trung đoàn pháo binh 45
Danh hiệu: Tất Thắng
Mật danh:
Chỉ huy: Nguyễn Hữu Mỹ
Tiểu đoàn 632
Tiểu đoàn 954
24 lựu pháo 105mm
Trung đoàn pháo binh 675
Danh hiệu: Anh Dũng
Mật danh:
Chỉ huy: Doãn Tuế
Tiểu đoàn 175
Tiểu đoàn 275
20 sơn pháo 75mm
Trung đoàn pháo binh 237
Danh hiệu:
Mật danh:
Chỉ huy:
Tiểu đoàn súng cối 413
Tiểu đoàn hoả tiễn H6
Tiểu đoàn ĐKZ 75mm
54 súng cối 82mm
12 pháo phản lực H6 75mm
 ? ĐKZ 75mm
Tiểu đoàn 413 từ đợt 1
Còn lại từ đợt 3
Tiểu đoàn súng cối 83
Danh hiệu:
Mật danh:
20 súng cối 120mm
Trung đoàn cao xạ 367 (thiếu)
Danh hiệu:
Mật danh:
Chỉ huy: Lê Văn Tri
2 tiểu đoàn cao xạ 37mm24 cao xạ 37mm
Sau tăng cường thêm 1 tiểu đoàn
Trung đoàn công binh 151
Danh hiệu:
Mật danh
Chỉ huy: Phạm Hoàng
4 tiểu đoàn công binh



Trận đồi Độc Lập [sửa]


Bài chi tiết: Trận đồi Độc Lập
Lúc 14 giờ 45 ngày 14 tháng 3, tướng Cogny đáp ứng yêu cầu của Castries là tăng cường ngay cho Điện Biên Phủ một tiểu đoàn dù để duy trì số lượng của tập đoàn cứ điểm như trước khi nổ ra trận đánh: 12 tiểu đoàn bộ binh. Những chiếc C-47 Dakota liều lĩnh vượt qua lưới lửa cao xạ, bay thấp thu ngắn thời gian tiếp đất của những chiếc dù, ném xuống Tiểu đoàn dù Việt số 5 (5e BPVN) do Đại úy André Botella chỉ huy.
Trong khi đó, phía QĐNDVN cũng triển khai bước tiếp theo. Nhiệm vụ tiến công đồi Độc Lập (Pháp gọi là Gabrielle) được giao cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 Lê Thùy (Đại đoàn 312) và Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 Nam Hà (Đại đoàn 308) dưới quyền chỉ huy của Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308 Vương Thừa Vũ. Trung đoàn 165 đảm nhiệm mũi chủ yếu đột phá từ hướng đông - nam, đánh dọc theo chiều dài của cứ điểm. Trung đoàn 88 phụ trách mũi thứ yếu, đột phá từ hướng đông bắc, đồng thời mở một mũi vu hồi ở hướng tây, và bố trí lực lượng làm nhiệm vụ chặn viện từ Mường Thanh ra.
Lúc 3 giờ 30 phút ngày 15, chỉ huy trưởng trận đánh hạ lệnh tiến công, cả lựu pháo và sơn pháo lúc này lại lên tiếng. Lúc 4 giờ sáng, chỉ huy trưởng cứ điểm Gabrielle là Thiếu tá Roland de Mecquenem báo cáo tình hình bằng điện đài và được chỉ huy tập đoàn cứ điểm de Castries hứa sẽ yểm trợ pháo tối đa, kể cả pháo 155 ly, và sẽ có phản kích nhanh chóng bằng bộ binh và chiến xa. Không lâu sau đó, một trái đại bác rơi trúng hầm chỉ huy cứ điểm Gabrielle. Mecquenem may mắn thoát chết nhưng Thiếu tá Edouard Kah, người đang nhận bàn giao thay thế Mecquenem chỉ huy cứ điểm bị thương nặng. Đến 6 giờ 30 phút sáng ngày 15, QĐNDVN cắm cờ Quyết chiến Quyết thắng lỗ chỗ vết đạn trên đỉnh đồi Độc Lập. Tiểu đoàn 5, Trung đoàn bộ binh thuộc địa Algérie số 7 (V/7e RTA) bị xóa sổ, cả Kah, Mecquenem và những sĩ quan binh sĩ sống sót đều bị bắt làm tù binh.
Quân Pháp mở cuộc phản công dưới sự chỉ huy của Trung tá Pierre Langlais, chỉ huy trưởng phân khu Trung tâm thay cho Trung táJules Gaucher tử trận, huy động 2 tiểu đoàn dù là Tiểu đoàn xung kích số 8 (8e BPC) và tiểu đoàn dù Việt (5e BPVN), tổng cộng 1.000 lính cùng 5 xe tăng, nhưng đang tiến quân thì bị nã pháo trúng đội hình nên bị đẩy lùi.
Cũng sáng hôm đó, Charles Piroth, chỉ huy pháo binh cứ điểm, sau hai đêm không thực hiện được lời hứa bịt miệng các họng pháo của Việt Minh, đã tự sát trong hầm của mình bằng một trái lựu đạn. Jean Pouget viết trong hồi ký: "Trung tá Piroth đã dành trọn một đêm (13 tháng 3) quan sát hỏa lực dần dần bị đối phương phản pháo chính xác một cách kinh khủng vào trận địa pháo của ông, hai khẩu pháo 105 ly bị quét sạch cùng pháo thủ, một khẩu 155 ly bị loại khỏi vòng chiến đấu..." Trung tá André Trancart, chỉ huy phân khu Bắc, bạn thân của Piroth kể lại sau trận Độc Lập, Piroth khóc và nói: "Mình đã mất hết danh dự. Mình đã bảo đảm với Castries và tổng chỉ huy sẽ không để pháo binh địch giành vai trò quyết định, và bây giờ, ta sẽ thua trận. Mình đi thôi".Tới ngày 16-3, phía bắc tập đoàn cứ điểm lúc này chỉ còn lại trung tâm đề kháng Anne Marie. Trung tâm này gồm bốn cứ điểm. Anne Marie 1 và 2 nằm ở vòng ngoài, trên hai mỏm của đồi Bản Kéo. Anne Marie 3 và 4 nằm ở đầu bắc sân bay ngay trên mặt ruộng, liền kề với phía khu trung tâm. Mấy ngày sau đó, An nơ Mari 3 và 4 được sáp nhập vào phân khu trung tâm, trở thành Huy ghét 6 và Huy ghét.
Tiểu đoàn Thái số 3 đóng tại đây vốn từ Lai Châu rút về, do thiếu tá Timoniê (Thimonnier) chỉ huy, được đánh giá tốt qua những trận đánh ở Nà Sản năm trước. Trong đợt này QDNDVN chủ trương tiêu diệt Anne Marie 1 và 2. Những vị trí này ở gần phân khu trung tâm nên được hỏa lực yểm trợ từ nhiều phía, xe tăng và đơn vị phản kích có thể tăng viện dễ dàng.

Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam [sửa]



Không được đào tạo tại bất kỳ trường quân sự nào trước đó, không phải trải qua các cấp bậc quân hàm trong quân đội, Võ Nguyên Giáp thụ phong quân hàm Đại tướng vào ngày 28 tháng 5 năm 1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948, Ông trở thành Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam khi 37 tuổi. Sau này, trả lời phóng viên nước ngoài về tiêu chí phong tướng, Hồ Chí Minh đã nói: "Đánh thắng đại tá phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng phong thiếu tướng, thắng trung tướng phong trung tướng, thắng đại tướng phong đại tướng".[9] Cùng đợt thụ phong có Nguyễn Bìnhđược phong Trung tướngNguyễn SơnLê Thiết HùngChu Văn TấnHoàng SâmHoàng Văn TháiLê Hiến MaiVăn Tiến DũngTrần Đại NghĩaTrần Tử Bình được phong Thiếu tướngTháng 8 năm 1948, ông là ủy viên Hội đồng Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập.
Từ tháng 8 năm 1945 Võ Nguyên Giáp là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành ủy viên Bộ Chính trị(thay thế Ban Thường vụ Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951.
Như các danh tướng Việt Nam trong lịch sử, Võ Nguyên Giáp chú trọng nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy yếu chế mạnh, lấy thô sơ thắng hiện đại. Tư tưởng quân sự nổi tiếng của ông có tên gọi là Chiến tranh nhân dân kế thừa quan điểm quân sự Hồ Chí Minh, tinh hoa nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên, tri thức quân sự thế giới, lý luận quân sự Mác-Lênin và được đúc rút từ kinh nghiệm cá nhân được liên tục cập nhật trong nhiều cuộc chiến tranh mà nổi bật là chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.
Trong 9 năm trường kỳ đánh Pháp, Võ Nguyên Giáp đã có những sáng kiến quan trọng để phát huy sức mạnh quân sự và đã trở thành những kinh nghiệm quý báu như: "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung". Với chuyên gia quân sự Trung Quốc sang giúp huấn luyện quân đội, ông chỉ đạo chiến sĩ học tập, tiếp thu, nghiên cứu kỹ phương pháp của nước bạn, đồng thời nhắc nhở cán bộ, sĩ quan phải ghi nhớ việc tiết kiệm sinh mạng bộ đội do Việt Nam là nước nhỏ không thể nuôi nhiều quân.
Năm 1954, Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh và Đảng Lao động tin tưởng trao cho toàn quyền chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi ra trận, Hồ Chí Minh đã dặn dò: "Cho chú toàn quyền chỉ huy. Trận này chỉ được thắng không được thua vì thua là hết vốn". Ông tự tin lên kế hoạch và chỉ huy 4 trong 6 sư đoàn bộ binh khi đó của Quân đội Nhân dân Việt Nam là 308, 304, 312, 316 và Đại đoàn sơn pháo 351 tấn công Điện Biên Phủ, đánh bại đội quân nhà nghề được trang bị hiện đại của Liên hiệp Pháp. Chiến thắng này đã đặt dấu chấm hết cho quyền lực của người Pháp tại Đông Dương sau 83 năm và đã đưa Võ Nguyên Giáp đi vào lịch sử thế giới như là một danh nhân quân sự Việt Nam, một người hùng của Thế giới thứ ba, nơi có những người dân bị nô dịch đã xem Võ Nguyên Giáp là thần tượng để hạ quyết tâm lật đổ chế độ thực dân xây dựng nền độc lập của riêng mình.
Trận Điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất[6] trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra tại lòng chảo Mường Thanhchâu Điện Biên, tỉnh Lai Châu (nay thuộc thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên), giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) và quân đội Liên hiệp Pháp (gồm lực lượng viễn chinh Pháplê dương Pháp, phụ lực quân bản xứ và Quân đội Quốc gia Việt Nam).
Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 – 1954 của Việt Nam. Bằng thắng lợi quyết định này, lực lượng QĐNDVN do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã buộc quân Pháp tại Điện Biên Phủ phải đầu hàng vào tháng 5 năm 1954, sau suốt 2 tháng chịu trận.[7] Giữa trận này, quân Pháp đã gia tăng lên đến 16.000 người nhưng vẫn không thể chống nổi các đợt tấn công của QĐNDVN.[8] Thực dân Pháp đã không thể bình định Việt Nam bất chấp nhiều năm chiến đấu và sự hỗ trợ ngày càng gia tăng củaHoa Kỳ[8], và họ đã không còn khả năng để tiếp tục ứng chiến sau thảm bại này.[9]
Trên phương diện quốc tế, trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một nước thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc châu Âu. Được xem là một thảm họa bất ngờ đối với thực dân Pháp và cũng là một đòn giáng mạnh với thế giới phương Tây,[7] đã đánh bại ý chí duy trì thuộc địa Đông Dương của Pháp và buộc nước này phải hòa đàm[7] và rút ra khỏi Đông Dương, các thuộc địa ở Châu Phi được cổ vũ cũng đồng loạt nổi dậy. Chỉ riêng trong năm 1960, 17 nước châu Phi đã giành được độc lập và đến năm 1967, Pháp đã buộc phải trao trả độc lập cho tất cả các nước là thuộc địa của Pháp.
Qua đó, đại thắng của QĐNDVN trong Chiến dịch Điện Biên Phủ còn được xem là một thảm họa đánh dấu thất bại hoàn toàn của nước Pháp trong nỗ lực tái gây dựng thuộc địa Đông Dương nói riêng và đế quốc thực dân của mình nói chung sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc[8][10], qua đó chấm dứt thời đại hơn 400 năm của chủ nghĩa thực dân kiểu cổ điển trên thế giới.